RSS

Đánh tan cục máu đông “nợ xấu”

23 Dec

Theo thống kế công chính thức của các Ngân hàng thì Tính đến 31/10, tổng dư nợ bất động sản khoảng 207.595 tỷ đồng, tăng 3,6% so với cuối năm ngoái, trong đó nợ xấu chiếm khoảng 13,5% tổng dư nợ bất động sản, tương đương hơn 28.000 tỷ đồng. Như vậy, tổng dư nợ có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất được coi là “nợ không đẹp” là khá lớn. Tuy nhiên, việc xử lý tài sản đảm bảo (TSDDB) trong thời gian qua gặp nhiều khó khăn bởi lẽ bản thân tổ chức tín dụng không thể tự mình xử lý TSBĐ đối với trường hợp bên thế chấp không hợp tác. Những quy định về sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan chính quyền (UBND, công an) trong quá trình xử lý TSBĐ cũng rất hạn chế. Chính quyền chỉ can thiệp khi bên phải THA có hành vi “chống đối bằng vũ lực”, nếu không cũng chỉ được giải thích, “canh chừng” cho quá trình xử lý TSBĐ. Ngay cả việc phối hợp giữa các cơ quan công quyền trong xử lý TSBĐ còn lúng túng khiến việc xử lý TSBĐ gặp nhiều khó khăn.

Mới đây, Thực hiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006, trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, xây dựng dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn một số điều về xử lý tài sản bảo đảm (sau đây gọi là dự thảo Thông tư), với một số nội dung chủ yếu như sau:

a) Hướng dẫn thu hồi tài sản thế chấp trong trường hợp bên thế chấp bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp quy định tại Điều 20 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP  (Điều 1)

Dự thảo Thông tư hướng dẫn trường hợp bên thế chấp bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh mà không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp thì bên nhận thế chấp có quyền thu hồi tài sản thế chấp. Việc thu hồi tài sản thế chấp theo quy định tại Dự thảo Thông tư áp dụng đối với cả trường hợp chưa đến hạn xử lý tài sản bảo đảm, chưa có căn cứ xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 56 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, cụ thể như sau:

– Bên nhận thế chấp gửi văn bản yêu cầu bên mua, bên trao đổi, bên được tặng cho tài sản giao lại tài sản thế chấp để xử lý với lý do việc mua bán, trao đổi, tặng cho không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp. Văn bản gửi cho bên mua, bên trao đổi, bên được tặng cho tài sản thế chấp phải xác định rõ tài sản thế chấp, thời hạn và địa điểm giao nhận tài sản thế chấp.

– Trong trường hợp bên mua, bên trao đổi, bên được tặng cho giao tài sản thế chấp theo đúng yêu cầu của bên nhận thế chấp thì các bên lập biên bản bàn giao tài sản, có chữ ký, con dấu (nếu có) của các bên.

– Trong trường hợp bên mua, bên trao đổi, bên được tặng cho không giao tài sản thế chấp thì bên nhận thế chấp có quyền thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này hoặc khởi kiện đòi tài sản tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

b) Hướng dẫn về xác định tài sản thế chấp để xử lý trong trường hợp tài sản bảo đảm thuộc diện phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu bị thay đổi về hiện trạng sau khi được bên thế chấp hoặc người thứ ba đầu tư hoặc có quyết định thu hồi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP (khoản 1, 2, 3 Điều 27 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP sửa đổi)

Nhằm giải quyết những vướng mắc phát sinh khi xác định tài sản thế chấp trong trường hợp tài sản bị thay đổi về hiện trạng do có sự đầu tư của bên thế chấp hoặc người thứ bahoặc có quyết định thu hồi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dự thảo Thông tư đã hướng dẫn chi tiết như sau:

(i) Trong trường hợp đầu tư vào tài sản thế chấp mà tài sản đó thuộc diện phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu dẫn đến thay đổi so với mô tả trong hợp đồng thế chấp và giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thì bên thế chấp hoặc người thứ ba có nghĩa vụ sau đây:

– Thông báo bằng văn bản cho bên nhận thế chấp biết về việc có sự thay đổi về hiện trạng.

– Thực hiện thủ tục xác nhận thay đổi về hiện trạng của tài sản thế chấp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

(ii) Trường hợp bên thế chấp hoặc người thứ ba không thực hiện việc xác nhận thay đổi hiện trạng của tài sản thế chấp do đầu tư tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì bên nhận thế chấp vẫn có quyền xử lý tài sản thế chấp và thực hiện đồng thời thủ tục xác nhận thay đổi với thủ tục đăng ký chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng sau khi xử lý tài sản thế chấp.

(iii) Trường hợp tài sản thế chấp bị thu hồi thì số tiền bồi thường được bù trừ vào tài sản thế chấp và được giao cho bên nhận thế chấp. Thủ tục giao nhận tiền bồi thường được thực hiện như sau:

– Khi nhận được thông báo chi trả tiền bồi thường của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, bên thế chấp có trách nhiệm thông báo lại cho bên nhận thế chấp về số tiền bồi thường, thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường.

– Bên nhận thế chấp gửi thông báo bằng văn bản cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường về việc quyền sử dụng đất bị thu hồi đã được thế chấp cho bên nhận thế chấp, giá trị nghĩa vụ của bên thế chấp và quyền nhận tiền bồi thường do việc thu hồi đất, kèm theo bản sao có chứng thực của hợp đồng thế chấp hoặc hợp đồng tín dụng có điều khoản về thế chấp quyền sử dụng đất.

– Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường thực hiện chi trả tiền bồi thường bên nhận thế chấp tương ứng với giá trị nghĩa vụ của bên thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký với bên thế chấp. Số tiền bồi thường còn lại (nếu có) được trả cho bên thế chấp. Trường hợp Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường thực hiện chi trả tiền bồi thường cho bên thế chấp, bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thế chấp hoàn trả số tiền bồi thường tương ứng với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm. Việc chi trả tiền bồi thường cho bên nhận thế chấp phải được lập thành văn bản có chữ ký của bên thế chấp, bên nhận thế chấp và Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường.

– Trường hợp bên thế chấp không nhận tiền bồi thường hoặc không ký vào biên bản giao nhận tiền bồi thường thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường có trách nhiệm chuyển khoản tiền bồi thường vào tài khoản riêng mở tại Ngân hàng. Bên nhận thế chấp có quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bên thế chấp thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thế chấp đã ký. Trường hợp Tòa án yêu cầu bên thế chấp thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường chuyển số tiền bồi thường cho bên nhận thế chấp tương ứng với giá trị nghĩa vụ của bên thế chấp. Số tiền còn lại (nếu có) sẽ được giao cho thế chấp.

Trường hợp có nhiều bên nhận thế chấp thì các bên nhận thế chấp được nhận số tiền bồi thường tương ứng với giá trị nghĩa vụ của bên thế chấp. Thứ tự ưu tiên thanh toán số tiền bồi thường được xác định theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm.

c) Thủ tục thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân trong việc hỗ trợ người xử lý tài sản thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý theo quy định tại Điều 63 Nghị định 163/2006/NĐ-CP (Điều5)

Dự thảo Thông tư hướng dẫn chi tiết, cụ thể về thủ tục thu giữ tài sản bảo đảm như sau:

– Trước ngày dự định thu giữ tài sản ít nhất 15 ngày, người xử lý tài sản gửi văn bản thông báo trực tiếp hoặc qua đường bưu điện cho người giữ tài sản bảo đảm về việc thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do thu giữ, thời hạn, địa điểm bàn giao tài sản bảo đảm, biện pháp thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên.

Theo đó, khi có văn bản thông báo này, người giữ tài sản bảo đảm có trách nhiệm giao tài sản bảo đảm, các loại giấy tờ, tài liệu chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản (nếu có) cho người xử lý tài sản trong thời hạn đã thông báo. Trong trường hợp người giữ tài sản bảo đảm là bên thứ ba, người xử lý tài sản thông báo cho bên bảo đảm phối hợp thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật buộc người giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản bảo đảm để xử lý.

– Nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà người giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản và các giấy tờ, tài liệu chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, người xử lý tài sản có quyền tổ chức thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm. Người xử lý tài sản có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm hỗ trợ thu giữ tài sản. Việc thực hiện thủ tục đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã cũng được hướng dẫn chi tiết tại Điều 5 dự thảo Thông tư.

Bên cạnh đó, tại Điều 5 dự thảo Thông tư đã quy định cụ thể về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân trong việc hỗ trợ người xử lý tài sản thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý, ví dụ như: cử cán bộ có trình độ chuyên môn phù hợp chứng kiến việc thu giữ tài sản và giữ gìn an ninh trật tự theo đề nghị của người xử lý tài sản bảo đảm. Cán bộ được Ủy ban nhân dân cử đến phải có mặt tại địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm trong thời gian bên nhận bảo đảm tiến hành thu giữ và ký tên vào biên bản thu giữ tài sản bảo đảm.

d) Hướng dẫn về xử lý tài sản bảo đảm là động sản trong trường hợp không có thoả thuận về phương thức xử lý quy định tại Điều 65 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP (Điều 9)

Dự thảo Thông tư hướng dẫn chi tiết về các loại tài sản bảo đảm có thể xác định được giá cụ thể, rõ ràng trên thị trường là những loại tài sản có giá được niêm yết trên thị trường dành riêng cho loại tài sản đó ví dụ như: vàng, cà phê hạt, các loại cổ phiếu, gạo…

Ngoài ra, dự thảo Thông tư cũng hướng dẫn trong trường hợp không có thoả thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm là các loại tài sản nêu trên thì bên nhận bảo đảm được định giá bán tài sản theo giá thị trường và thực hiện các thủ tục bán tài sản mà không cần có sự đồng ý của bên bảo đảm, tuy nhiên bên nhận bảo đảm phải thông báo trực tiếp hoặc qua đường bưu điện cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác (nếu có) về việc bán tài sản trước 07 ngày.

e) Hướng dẫn về chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP (Điều 13)

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên khi thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng cho người mua, người nhận chuyển nhượng tài sản bảo đảm, dự thảo Thông tư hướng dẫn chi tiết về hồ sơ chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng trong các trường hợp sau đây:

– Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; quyền sử dụng đất; tài sản gắn liền với đất;

– Trường hợp tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện thủy nội địa;

– Trường hợp tài sản bảo đảm là các tài sản khác không thuộc diện đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, đăng ký lưu hành phương tiện;

– Trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai.

Dự thảo hướng dẫn mới này với hi vọng sẽ đánh tan được cục máu đông “nợ xấu” để lành mạnh hóa huyết mạnh của nền kinh tế.

 

Thẻ: , ,

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: