RSS

Pháp luật về trợ giúp pháp lý và luật sư tham gia trợ giúp pháp lý

27 Th2

TS. Trần Huy Liệu

 1. Một số vấn đề chung về trợ giúp pháp lý

1.1. Khái niệm pháp luật trợ giúp pháp lý.

Pháp luật TGPL là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động TGPL cho người nghèo, người có công với cách mạng và những đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Pháp luật về TGPL hiện hành gồm có các văn bản quy phạm pháp luật sau đây:

– Luật TGPL được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007;

– Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/1/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL (sau đây viết tắt là Nghị định số 07/NĐ-CP);

– Quyết định số 792/QĐ-TTg ngày 23/06/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch mạng lưới Trung tâm TGPL nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008-2010, định hướng đến năm 2015”.

– Quyết định số 84/2008/QĐ-TTg ngày 30/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam.

– Quyết định số 03/2007/QĐ-BTP ngày 01/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành một số biểu mẫu dùng trong hoạt động TGPL.

– Quyết định số 02/2008/QĐ-BTP ngày 01/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước.

– Quyết định số 05/2008/QĐ-BTP ngày 13/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy chế Cộng tác viên trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác.

– Quyết định số 07/2008/QĐ-BTP ngày 05/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Quy chế bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL.

– Quyết định số 08/2008/QĐ-BTP ngày 08/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam.

– Quyết định số 09/2008/QĐ-BTP ngày 08/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.

– Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT/BTP–BCA – BQP – BTC –VKSNDTC – TANDTC ngày 28/12/2007 của liên ngành hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

– Thông tư liên tịch số 81/2008/TTLT/BTC-BTP ngày 25/9/2008 của Liên Bộ Tài chính – Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan trợ giúp pháp lý nhà nước;

– Thông tư liên tịch số 08/2008/TTLT/BTP-BNV ngày 07/11/2008 của Liên Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức và biên chế của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước;

– Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày  23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý;

– Thông tư số 07/2008/TT-BTP ngày  23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý trong các Chương trình giảm nghèo;

Các văn bản quy phạm pháp luật khác hướng dẫn thi hành Luật Trọ giúp pháp lý hoặc có liên quan đến hoạt động TGPL.

Pháp luật trợ giúp pháp lý quy định về nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý, chính sách trợ giúp pháp lý, Quỹ trợ giúp pháp lý; người được trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý, quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp.

Pháp luật trợ giúp pháp lý áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó (Điều 2).

1.2. Khái niệm trợ giúp pháp lý.

Thuật ngữ “Trợ giúp pháp lý” được sử dụng phổ biến trên thế giới từ thế kỷ XV – XVI và phát triển từ giữa thế kỷ XIX đến nay, xuất phát từ tiếng Anh là: Legal aid. Theo Từ điển Anh – Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nxb. Khoa học xã hội, 1997 thì “Legal aid” được dịch là “Trợ cấp pháp lý”. Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch “Legal aid” là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp”… Như vậy, có rất nhiều cách dịch khác nhau về thuật ngữ này. Xuất phát từ bản chất và hình thức hoạt động “Legal aid” trên thế giới và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua, thuật ngữ “Legal aid” được dịch là“Trợ giúp pháp lý” đang được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp luật và sách báo ở Việt Nam hiện nay có tính khái quát hơn cả, đồng thời nó thể hiện rõ bản chất, nội dung và hình thức hoạt động của loại dịch vụ pháp lý miễn phí ở Việt Nam.

Theo từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản khoa học xã hội năm 1994 thì thuật ngữ “Trợ giúp” có nghĩa là giúp đỡ. Đến lượt mình thuật ngữ “Giúp đỡ” theo nghĩa tích cực là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một việc gì đó hoặc cho ai cái gì đó mà người ấy đang cần. Cái đang cần sự giúp đỡ ở đây là “pháp lý” theo nghĩa rộng của từ này.

Ở các nước trên thế giới, hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người yếu thế bắt đầu hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước tư sản và được coi là chức năng xã hội của nhà nước, là một trong nhữmg tiêu chí bảo vệ quyền con người của nhà nước pháp quyền. Việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý ở Việt Nam năm 1997 là xuất phát từ chính những nguyên tắc Hiến định chủ quyền thuộc về nhân dân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và bản chất của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý trên thế giới rất phong phú và đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Vì vậy, chưa có quan niệm chung, thống nhất về trợ giúp pháp lý.

Do có nhiều mô hình trợ giúp pháp lý, với những quan niệm khác nhau về đối tượng, phạm vi, phương thức và chi phí trợ giúp pháp lý trên thế giới, nên ở mỗi nước đều có quan niệm riêng của mình và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng nói chung các khái niệm của các nước đều thể hiện tính kinh tế, nhân đạo và tính pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý. Tính kinh tế, nhân đạo thể hiện ở chỗ giúp đỡcho đối tượng không có khả năng thanh toán cho các chi phí khi tiếp cận với dịch vụ pháp lý. Tính pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý thể hiện ở chỗ giúp đỡ đối tượng giải quyết các vụ, việc có liên quan đến pháp luật (luật nội dung và luật hình thức…).

Dưới góc độ kinh tế mang tính nhân đạo một số nước (như Đức) quan niệm trợ giúp pháp lý là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước toà án.

Dưới góc độ pháp lý, theo pháp luật của Anh và xứ Wales thì Trợ giúp pháp lý là giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng chi trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện pháp lý.

Điều 2 Đạo luật về đại diện và tư vấn pháp lý 1995 của Singapore cũng giải thích rằng trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý.

Nhìn dưới góc độ mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý, người Úc cho rằng trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ cho một người có được hoàn cảnh và điều kiện tương tự như người khác trong việc tiếp cận với pháp luật, tức là tạo ra sự công bằng khi tiếp cận với pháp luật.

Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới đã có từ hàng trăm năm nay và thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian qua, chúng ta có thể đưa ra quan niệm chung về trợ giúp pháp lý một cách đầy đủ, thể hiện những đặc trưng cơ bản của nó. Theo quan niệm chung hiện nay thì trợ giúp pháp lý hiểu là sự giúp đỡ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người yếu thế có hoàn cảnh dặc biệt và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, hoà giải…), nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội.

Theo Điều 3 Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 thì trợ giúp pháp lý được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý (tư vấn, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hoà giải…) miễn phí của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác ở Việt Nam xuất phát từ chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có mặt tích cực là thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển nhưng có mặt tiêu cực là làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh thổ và các nhóm xã hội. Khoảng cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế, văn hoá,… và đặc biệt là trong việc tiếp cận với dịch vụ pháp lý. Người nghèo thường không có điều kiện về kinh tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí, nên trong nhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không mời được luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại. Mặt khác, trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung thì việc người dân tiếp cận với pháp luật để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, để xử sự phù hợp với pháp luật trong các quan hệ xã hội hàng ngày không phải dễ dàng. Tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước ra đời đã tạo cơ chế cần thiết để người nghèo và người có công với cách mạng có được điều kiện và hoàn cảnh tương tự như người khác trong tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật và góp phần thực hiện công bằng xã hội.

1.3. Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý

Theo quy định tại Điều 4 Luật Trợ giúp pháp lý thì hoạt động trợ giúp pháp lý phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

– Không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được trợ giúp pháp lý;

– Trung thực, tôn trọng sự thật khách quan;

– Sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý;

– Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý;

– Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trợ giúp pháp lý.

1.4. Chính sách trợ giúp pháp lý

Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý xác định:

a) Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước.

b) Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý.

1.5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động trợ giúp pháp lý.

– Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức, thành viên, hội viên và cá nhân khác làm việc tại cơ quan, tổ chức mình làm cộng tác viên TGPL.

– Cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp, tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tài liệu cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý để trợ giúp pháp lý (Điều 7).

1.6. Quỹ trợ giúp pháp lý (Điều 8)

Điều 8 Luật Trợ giúp pháp lý quy định:

1. Quỹ trợ giúp pháp lý được lập để hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; hỗ trợ trang thiết bị, phương tiện làm việc cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý ở địa phương có khó khăn về kinh tế.

2. Nguồn tài chính của Quỹ trợ giúp pháp lý gồm đóng góp tự nguyện, tài trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác.

3. Quỹ trợ giúp pháp lý hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được miễn thuế. Việc quản lý và sử dụng quỹ trợ giúp pháp lý phải đúng mục đích và theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định cụ thể việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ trợ giúp pháp lý.

1.7. Các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 9 Luật TGPL)

1. Nghiêm cấm tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện các hành vi sau đây:

a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; phân biệt đối xử người được trợ giúp pháp lý;

b) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người được trợ giúp pháp lý; sách nhiễu người được trợ giúp pháp lý;

c) Tiết lộ thông tin, bí mật về vụ việc trợ giúp pháp lý, về người được trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp người được trợ giúp pháp lý đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;

d) Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 45 của Luật TGPL và theo quy định của pháp luật về tố tụng;

đ) Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi;

e) Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

g) Xúi giục người được trợ giúp pháp lý khai, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật.

2. Nghiêm cấm người được trợ giúp pháp lý, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý thực hiện các hành vi sau đây:

a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người thực hiện trợ giúp pháp lý;

b) Cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về vụ việc TGPL;

c) Cản trở hoạt động TGPL; gây rối, làm mất trật tự nơi thực hiện TGPL.

2. Người được trợ giúp pháp lý.

2.1. Người được trợ giúp pháp lý.

Điều 10 Luật TGPL quy định người được TGPL bao gồm : Người nghèo; người có công với cách mạng; người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa và người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

2.1.1. Người nghèo.

Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 07/NĐ-CP thì người nghèo là người thuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật. Theo Điều 1 Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 thì hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người từ 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống và hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận hộ nghèo (Sổ hoặc giấy chứng nhận hộ nghèo) để họ được hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước. Hiện nay, theo chuẩn nghèo mới, cả nước có khoảng 17 – 18% dân số cả nước là người nghèo.

2.1.2. Người có công với cách mạng.

Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định số 07/NĐ-CP thì người có công với cách mạng được TGPL bao gồm :

a) Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945;

b) Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động;

c) Cha, mẹ, vợ hoặc chồng của liệt sỹ, con của liệt sỹ chưa đủ 18 tuổi và người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;

d) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh;

đ) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

g) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;

e) Người có công giúp đỡ cách mạng bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”; người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945; người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến và người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến (Điều 32 Pháp lệnh về người có công với cách mạng năm 2005). Hiện nay, người có công với cách mạng chiếm khoảng hơn 9 triệu người).

2.1.3. Người già cô đơn không nơi nương tựa là những người từ đủ 60 tuổi trở lên, sống độc thân, không nơi nương tựa, không có người chăm sóc, phụng dưỡng.

2.1.4. Người tàn tật không nơi nương tựa là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn hoặc là người bị nhiễm chất độc hoá học, bị nhiễm HIV hoặc bị các bệnh khác làm mất năng lực hành vi dân sự mà không có nơi nương tựa.

2.1.5. Trẻ em không nơi nương tựa là người dưới mười sáu tuổi, không nơi nương tựa. Đó là trẻ em không có gia đình hoặc bị gia đình bỏ rơi, tự kiếm sống hoặc có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng.

2.1.6. Người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật (hiện nay có gần 1.800 xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn).

2.1.7. Luật phòng chống mua bán người mới được Quốc hội thông qua tháng 3/2011 quy định nạn nhân của tội phạm mua bán người cũng được TGPL.

2.1.8. Các đối tượng khác theo quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên.

– Người nước ngoài được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí tại Việt Nam theo Hiệp định tương trợ tư pháp đã ký kết giữa Việt Nam và nước mà người đó mang quốc tịch nếu trong Hiệp định có quy định về vấn đề này (hiện nay có Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Trung Quốc, giữa Việt Nam với Cộng hoà Pháp và Ucraina có quy định này).

–  Trong khuông khổ một số dự án hợp tác quốc tế về TGPL ở Việt Nam thì một số đối tượng như người chưa thành niên, phụ nữ, trẻ em là nạn nhân của bạo lực trong gia đình và nạn nhân của tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em cũng được TGPL. 2.2. Quyền của người được trợ giúp pháp lý.

2.2. Quyền của người được trợ giúp pháp lý.

Điều 11 Luật Trợ giúp pháp lý quy định người được trợ giúp pháp lý có những quyền sau đây :

1. Tự mình hoặc thông qua người thân thích, người đại diện yêu cầu trợ giúp pháp lý;

2. Lựa chọn người thực hiện trợ giúp pháp lý; yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý khi người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 45 của Luật này;

3. Thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý;

4. Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý;

5. Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;

6. Khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý.

2.3. Nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý. 

Điều 12 Luật Trợ giúp pháp lý quy định người được trợ giúp pháp lý có các nghĩa vụ sâu đây :

1. Cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý;

2. Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu đó;

3. Tôn trọng tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý;

4. Không yêu cầu tổ chức thực hiện TGPL khác trợ giúp pháp lý cho mình về một vụ việc đang được tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trợ giúp;

5. Chấp hành pháp luật về TGPL và nội quy nơi thực hiện TGPL.

3. Người thực hiện trợ giúp pháp lý.

3.1. Người thực hiện TGPL.

Theo Điều 20 Luật Trợ giúp pháp lý, người thực hiện TGPL bao gồm : Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên, Luật sư và Tư vấn viên pháp luật.

– Theo Khoản 3 Điều 20 Luật TGPL thì những người thuộc một trong các trường hợp sau đây không được tham gia trợ giúp pháp lý:

a) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích hoặc đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b) Đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục hoặc quản chế hành chính;

c) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

d) Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực;

đ) Đang bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư; bị thu hồi Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật.

3.2. Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL. 

Theo Điều 25 Luật TGPL, người thực hiện trợ giúp pháp lý có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện trợ giúp pháp lý.

2. Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện TGPL trong các trường hợp quy định tại Điều 45 của Luật TGPL và theo quy định của pháp luật về tố tụng.

3. Được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng trợ giúp pháp lý.

4. Tuân thủ nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý.

5. Tuân thủ nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.

6. Kịp thời báo cáo với tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý những vấn đề phát sinh làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý.

3.3. Trợ giúp viên pháp lý (Điều 21). 

3.3.1. Tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý.

Trợ giúp viên pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt;

b) Có bằng cử nhân luật;

c) Có Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

d) Có thời gian làm công tác pháp luật từ hai năm trở lên;

đ) Có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

3.3.2. Địa vị pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý.

– Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước, làm việc tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm, được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm và cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp.

– Trợ giúp viên pháp lý thực hiện TGPL bằng các hình thức sau đây:

+ Tư vấn pháp luật;

+ Tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp để bào chữa cho người được TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự; đại diện cho người được TGPL để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án dân sự, hành chính;

+ Đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật;

+ Thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý khác (tham gia hoà giải, hướng dẫn thủ tục hành chính, khiếu nại).

3.4. Cộng tác viên (Điều 22).   

3.4.1. Tiêu chuẩn chung của Cộng tác viên TGPL.

Theo Khoản 1 Điều 22 Luật TGPL thì những người có đủ các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây mà không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 20 của Luật TGPL thì được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên:

a) Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý;

b) Người có bằng cử nhân luật; người có bằng đại học khác làm các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;

c) Người thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng;

đ) Luật sư, Tư vấn viên pháp luật tự nguyện làm cộng tác viên.

Cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc trưởng Chi nhánh của Trung tâm. Cộng tác viên không phải là Luật sư chỉ tham gia trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật. Khi tham gia trợ giúp pháp lý, cộng tác viên được hưởng chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính theo quy định của pháp luật.

3.4.2. Thủ tục công nhận và cấp thẻ cộng tác viên.

1. Theo Điều 27 Nghị định số 07/NĐ-CP, người có đủ tiêu chuẩn, tự nguyện làm cộng tác viên thì gửi hồ sơ đến Trung tâm TGPL nhà nước ở địa phương nơi mình cư trú hoặc công tác. Hồ sơ đề nghị làm cộng tác viên gồm có các giấy tờ sau đây:

a) Đơn đề nghị làm cộng tác viên theo mẫu;

b) Bản sao bằng cử nhân luật; bằng đại học khác hoặc bằng trung cấp luật và giấy xác nhận thời gian làm công tác pháp luật của cơ quan, tổ chức nơi người đó đã hoặc đang công tác;

c) Sơ yếu lý lịch cá nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc của cơ quan nơi làm việc kèm hai ảnh mầu chân dung cỡ 2cm x 3cm.

Trong trường hợp người đề nghị làm cộng tác viên thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi mà có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng thì ngoài các giấy tờ tài liệu nêu trên, trong hồ sơ phải có ý kiến của cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú.

2. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, nếu hồ sơ hợp lệ thì Giám đốc Trung tâm TGPL trình Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên. Trong trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì trả lại hồ sơ cho người đề nghị làm cộng tác viên và thông báo rõ lý do bằng văn bản.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Giám đốc Trung tâm trình, Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, ký quyết định công nhận và cấp thẻ cộng tác viên. Trong trường hợp từ chối phải thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người đề nghị làm cộng tác viên. Người bị từ chối có quyền khiếu nại đối với việc từ chối công nhận và cấp thẻ cộng tác viên.

4. Theo Điều 28 Nghị định số 07/NĐ-CP, người được công nhận và cấp thẻ cộng tác viên thì được ký hợp đồng cộng tác với Trung tâm. Trung tâm có trách nhiệm ký kết hợp đồng cộng tác với cộng tác viên. Hợp đồng cộng tác phải có những nội dung chính sau đây:

a) Họ tên, địa chỉ của các bên tham gia hợp đồng cộng tác;

b) Hình thức, lĩnh vực trợ giúp pháp lý mà cộng tác viên dự kiến sẽ thực hiện phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý và Điều 34 Nghị định số 07/NĐ-CP;

c) Quyền hạn và trách nhiệm của các bên trong quan hệ cộng tác;

d) Vấn đề chấm dứt hợp đồng cộng tác và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng cộng tác.

5. Cộng tác viên được thực hiện trợ giúp pháp lý kể từ thời điểm ký hợp đồng cộng tác.

3.4.3. Chấm dứt hợp đồng cộng tác và thu hồi thẻ cộng tác viên.

1. Điều 30 Nghị định số 07/NĐ-CP quy định hợp đồng cộng tác bị chấm dứt và thẻ cộng tác viện bị thu hồi trong các trường hợp sau đây:

a) Cộng tác viên không thực hiện trợ giúp pháp lý trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày được cấp thẻ cộng tác viên, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

b) Cộng tác viên có một trong các hành vi (vi phạm điều cấm) quy định tại Điều 9 Luật Trợ giúp pháp lý;

c) Cộng tác viên thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật Trợ giúp pháp lý;

d) Cộng tác viên chấm dứt hợp đồng cộng tác với Trung tâm hoặc không tiến hành ký hợp đồng cộng tác với Trung tâm trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày được cấp thẻ.

2. Khi cộng tác viên thuộc một trong các trường hợp trên đây thì Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước ra quyết định chấm dứt hợp đồng cộng tác với cộng tác viên và đề nghị Giám đốc Sở Tư pháp thu hồi thẻ cộng tác viên.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Giám đốc Trung tâm, Giám đốc Sở Tư pháp ra quyết định thu hồi thẻ cộng tác viên. Người bị thu hồi thẻ cộng tác viên thì không được tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý.

3.4.4. Phương thức tham gia thực hiện TGPL của cộng tác viên.

Điều 31 Nghị định số 07/NĐ-CP quy định cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lý theo các phương thức sau đây:

1. Nhận vụ việc trợ giúp pháp lý do người được trợ giúp pháp lý trực tiếp yêu cầu hoặc theo phân công của Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước hoặc Trưởng Chi nhánh của Trung tâm.

2. Cộng tác viên hoạt động với tư cách cá nhân hoặc được tổ chức thành Tổ cộng tác viên.

3. Cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi hợp đồng cộng tác được ký kết giữa Trung tâm TGPL nhà nước với cộng tác viên.

3.4.5. Quyền lợi và trách nhiệm của cộng tác viên.

Ngoài các quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL nói chung quy định tại Điều 25 Luật Trợ giúp pháp lý, Điều 32 Nghị định số 07/NĐ-CP quy định khi trực tiếp tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý, cộng tác viên có những quyền lợi và trách nhiệm sau đây:

a) Được nhận bồi dưỡng và các chi phí hành chính hợp lý theo quy định của pháp luật theo vụ việc cụ thể;

b) Được đề xuất, kiến nghị về việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm;

c) Được biểu dương, khen thưởng khi có thành tích trong công tác trợ giúp pháp lý;

d) Sử dụng thẻ cộng tác viên theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 07/NĐ-CP và nộp lại thẻ cộng tác viên khi bị thu hồi theo quy định tại Điều 30 Nghị định số 07/NĐ-CP;

đ) Chịu trách nhiệm trước Giám đốc Trung tâm và trước pháp luật về việc thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý của mình. Trong trường hợp làm việc tại Chi nhánh thì còn phải chịu trách nhiệm trước Trưởng Chi nhánh;

e) Trong trường hợp cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý mà gây thiệt hại thì Trung tâm nơi người đó cộng tác có trách nhiệm bồi thường. Cộng tác viên đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Trung tâm theo quy định của pháp luật về dân sự;

g) Báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của Trung tâm; kịp thời báo cáo những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý và đề xuất biện pháp giải quyết với lãnh đạo Trung tâm.

4.4.6. Chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính cho Cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý.

1. Điều 33 Nghị định số 07/NĐ-CP quy định khi tham gia trợ giúp pháp lý, Cộng tác viên được hưởng chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính hợp lý theo quy định của pháp luật.

Mức bồi dưỡng theo vụ việc trợ giúp pháp lý cho cộng tác viên được xây dựng căn cứ vào chất lượng nội dung trợ giúp pháp lý, thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý, tính chất phức tạp của vụ việc trợ giúp pháp lý, kết quả trợ giúp pháp lý và hình thức trợ giúp pháp lý. Thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ việc và chuẩn bị tài liệu phục vụ cho việc thực hiện trợ giúp pháp lý; thời gian gặp gỡ, tiếp xúc với người được trợ giúp pháp lý hoặc thân nhân của họ; thời gian xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý; thời gian làm việc tại các cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý. Căn cứ để xác định thời gian làm việc của cộng tác viên là thời gian làm việc có xác nhận của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.

Theo Thông tư liên tịch số 81/2002/ TTLT/BTC-BTP ngày 25/9/2008 của Liên Bộ Tài chính – Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan trợ giúp pháp lý nhà nước thì Cộng tác viên khi thực hiện trợ giúp pháp lý được hưởng mức bồi dưỡng cụ thể như sau:

– Cộng tác viên thực hiện tư vấn pháp luật được hưởng mức bồi dưỡng cụ thể là:

+ Đối với giải đáp, hướng dẫn pháp luật bằng miệng với vụ việc đơn giản (có thời gian tư vấn không nhiều, hoặc chỉ hướng dẫn thủ tục cần thiết như chuyển đơn, hướng dẫn hoặc cung cấp địa chỉ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc của đối tượng…để đối tượng trợ giúp trực tiếp đến đó…) thì phụ cấp đối với cộng tác viên là 20.000đồng/ giờ.

+ Đối với các vụ việc giải đáp, hướng dẫn pháp luật bằng miệng phức tạp (như tư vấn một vụ việc có liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau hoặc liên quan đến nhiều cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc các vụ việc đòi hỏi phải mất nhiều thời gian tư vấn…) thì cộng tác viên được hưởng mức bồi dưỡng là 30.000đồng/giờ.

+ Đối với giải đáp, hướng dẫn pháp luật bằng văn bản đơn giản (như thảo đơn, trả lời bằng văn bản qua thư với những vụ việc đơn giản chỉ liên quan đến một lĩnh vực pháp luật hoặc liên quan đến một cơ quan giải quyết hoặc vụ việc có tình tiết đơn giản không đòi hỏi mất nhiều thời gian…) thì mức bồi dưỡng là 30.000đồng/1văn bản.

+ Đối với giải đáp, hướng dẫn pháp luật bằng văn bản phức tạp (như vụ việc có liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, liên quan đến nhiều cơ quan giải quyết; hoặc vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp đòi hỏi phải có thời gian nghiên cứu hồ sơ tương đối lâu hoặc vụ việc vụ việc kéo dài nhiều năm đã qua nhiều cấp, nhiều ngành giải quyết mà không có kết quả; viết kiến nghị yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, kiến nghị yêu cầu Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Toà án kháng nghị bản án đã có hiệu lực pháp luật v.v..) thì mức bồi dưỡng cho Cộng tác viên là 50.000/1 văn bản.

+ Cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng thì mức bồi dưỡng là 120.000đ/01 ngày làm việc của Luật sư. Trong trường hợp làm việc nửa ngày (một buổi sáng hoặc một buổi chiều) thì được hưởng bồi dưỡng 60.000 đ/01 buổi làm việc.

Trường hợp Luât sư đến tham dự phiên tòa nhưng bị hoãn mà không được báo trước và không do yêu cầu của luật sư thì được bồi dưỡng tối đa 60.000đ ( bằng một buổi làm việc của luật sư).

+ Cộng tác viên tham gia đại diện ngoài tố tụng thì mức bồi dưỡng là 100.000đ/01 ngày làm việc. Trong trường hợp làm việc nửa ngày (một buổi sáng hoặc một buổi chiều) thì được hưởng bồi dưỡng 50.000 đ/01 buổi làm việc.

+ Cộng tác viên tham gia hòa giải thì mức bồi dưỡng là 100.000/1 vụ việc hòa giải.

– Cộng tác viên được hưởng chi phí hành chính hợp lý khi thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý bao gồm các khoản phí phải nộp theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chi phí sao chụp tài liệu, chi phí liên lạc với người được trợ giúp pháp lý hoặc thân nhân của họ và các khoản chi phí hợp lý khác phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, khi thực hiện trợ giúp pháp lý, Cộng tác viên được thanh toán tiền công tác phí, tiền tàu xe, tiền lưu trú, thuê nhà nghỉ… như đối với cán bộ, công chức Nhà nước đi công tác.

Căn cứ để xác định chi phí hợp lý và thời gian đi công tác là biên lai thu phí, lệ phí, vé tàu, xe, hoá đơn nhà nghỉ v.v. hoặc xác nhận  của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

2. Trung tâm có trách nhiệm thanh toán cho Cộng tác viên theo đúng quy định của Nhà nước về mức bồi dưỡng và các khoản chi phí hành chính hợp lý. Ngoài khoản bồi dưỡng và chi phí do Trung tâm trợ giúp pháp lý thanh toán, Cộng tác viên không được đòi thêm bất cứ khoản tiền thù lao nào từ người được trợ giúp pháp lý hoặc thân nhân của họ.

3.5. Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý.

Luật sư thực hiện TGPL trong các trường hợp sau đây:

1. Luật sư thực hiện TGPL theo quy định của pháp luật về luật sư. Theo Điều 21 và Điều 31 Luật luật sư năm 2006 thì luật sư có nghĩa vụ thực hiện TGPL miễn phí theo Điều lệ của tổ chức luật sư toàn quốc. Hiện nay Liên đoàn Luật sư toàn quốc chưa quy định cụ thể Luật sư tham gia thực hiện TGPL như thế nào. Khi thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí, luật sư phải tận tâm với người được trợ giúp như đối với khách hàng trong những vụ, việc có thù lao;

2. Luật sư tham gia thực hiện TGPL với tư cách cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước theo quy định của Luật TGPL và Quy chế cộng tác viên TGPL. Luật sư là cộng tác viên tham gia TGPL trong phạm vi thoả thuận trong hợp đồng cộng tác với Trung tâm TGPL nhà nước. Hiện nay có hơn 1.000 luật sư là cộng tác viên của các Trung tâm TGPL nhà nước ở địa phương. Hàng năm thực hiện hàng chục ngàn vụ việc tham gia tố tụng hình sự, dân sự và được các Trung tâm TGPL nhà nước thanh toán tiền bồi dưỡng theo quy định của pháp luật;

3. Luật sư tham gia thực hiện TGPL tại tổ chức hành nghề luật sư của mình khi tổ chức hành nghề luật sư đã đăng ký tham gia TGPL lại Sở Tư pháp, nơi tổ chức hành nghề luật sư có trụ sở. Trong trường hợp này luật sư thực hiện TGPL trong phạm vi đăng ký tham gia TGPL. Hiện nay cả nước có hơn 130 tổ chức hành nghề đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý. Khi tổ chức hành nghề luật sư đăng ký tham gia TGPL thì các luật sư thực hiện TGPL theo sự phân công của Trưởng văn phòng luật sư bằng nguồn lực của mình.

4. Luật sư tham gia được thực hiện TGPL bằng tất cả các hình thức TGPL: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức TGPL khác.

3.6. Tư vấn viên pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý (Điều 24).

1. Tư vấn viên pháp luật thực hiện TGPL theo sự phân công của Trung tâm tư vấn pháp luật nơi họ làm việc theo Nghị định số 77/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hoặc Trung tâm tư vấn pháp luật đã đăng ký tham gia TGPL theo quy định của pháp luật về TGPL.

2. Tư vấn viên pháp luật tham gia thực hiện TGPL với tư cách cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước theo quy định của Luật TGPL và Quy chế cộng tác viên TGPL.

Tư vấn viên pháp luật tham gia thực hiện TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật và trong phạm vi đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý (Điều 13 Luật TGPL).

Các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm; tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp (sau đây gọi chung là tổ chức tư vấn pháp luật).

– Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập.

– Tổ chức hành nghề luật sư là các Văn phòng luật sư, Công ty luật được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về luật sư;

– Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp là các Trung tâm tư vấn pháp luật được thành lập theo Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật.

4.1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (Điều 14 Luật TGPL).

4.1.1. Địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức của Trung tâm TGPL.

– Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng. Biên chế và kinh phí hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.

– Trung tâm TGPL nhà nước có Giám đốc, Phó giám đốc, Trợ giúp viên pháp lý. Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

– Theo Điều 16 Luật TGPL, Trung tâm TGPL nhà nước có thể có Chi nhánh ở cấp huyện. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm TGPL nhà nước. Trung tâm TGPL nhà nước chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh. Trưởng Chi nhánh là Trợ giúp viên pháp lý và do Giám đốc Sở Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

4.1.2. Quyền và nghĩa vụ của Trung tâm TGPL nhà nước.

Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có các quyền và nghĩa vụ sau đây :

1. Thực hiện trợ giúp pháp lý;

2. Đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc trợ giúp pháp lý;

3. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện TGPL;

4. Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý;

5. Giải quyết khiếu nại và tranh chấp về trợ giúp pháp lý;

6. Kiến nghị về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật.

4.2. Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật.

Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp tham gia TGPL phải đăng ký bằng văn bản về phạm vi, hình thức, lĩnh vực TGPL với Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt động (Điều 17 Luật TGPL và Điều 15 Nghị định số 07/NĐ-CP).

4.2.1. Thủ tục đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý

– Hồ sơ đăng ký bao gồm: Đơn đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; danh sách Luật sư, Tư vấn viên pháp luật; bản sao Giấy đăng ký hoạt động.

Đơn đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý có các nội dung chính sau đây:

a) Tên, địa chỉ trụ sở, số điện thoại của tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý;

b) Dự kiến diện người được trợ giúp pháp lý, hình thức, phạm vi, lĩnh vực đăng ký trợ giúp pháp lý.

– Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý cho tổ chức đã đề nghị và thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước để phối hợp hoạt động. Trong trường hợp từ chối phải thông báo rõ lý do bằng văn bản.

– Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, tổ chức được cấp Giấy đăng ký thực hiện công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương về các nội dung của Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý. Việc thực hiện trợ giúp pháp lý được tính từ khi đã thực hiện việc công bố công khai Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.

Việc đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý không phải trả lệ phí.

4.2.2. Thay đổi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý

– Theo Điều 16 Nghị định số 07/NĐ-CP, khi có thay đổi liên quan đến nội dung của Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật gửi đơn đề nghị thay đổi kèm theo Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý đã cấp đến Sở Tư pháp nơi đã đăng ký.

– Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, Sở Tư pháp cấp mới Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý. Trong trường hợp từ chối phải thông báo rõ lý do bằng văn bản.

Việc cấp mới Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý không phải trả lệ phí.

4.2.3.  Thu hồi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý

Theo Điều 17 Nghị định số 07/NĐ-CP, Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý bị thu hồi khi tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý thuộc trường hợp không được tiếp tục tham gia trợ giúp pháp lý quy định tại khoản 2 Điều 48 Luật Trợ giúp pháp lý.

Việc thu hồi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý do Giám đốc Sở Tư pháp quyết định và được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương để nhân dân biết.

Khi bị thu hồi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật không được tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý và không được cấp lại Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý. Các vụ việc trợ giúp pháp lý đang thực hiện phải được chuyển giao cho Trung tâm TGPL nhà nước ở địa phương nơi đã đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.

4.2.4. Quyền lợi và trách nhiệm của Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật khi tham gia trợ giúp pháp lý.

1. Được thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm để thực hiện có hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý.

2. Được đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý để phục vụ thực hiện trợ giúp pháp lý.

3. Được giới thiệu người có yêu cầu trợ giúp pháp lý đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm để được trợ giúp pháp lý; từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý trong những trường hợp quy định tại Điều 45 Luật Trợ giúp pháp lý.

4. Được Nhà nước hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng trợ giúp pháp lý cho đội ngũ người tham gia trợ giúp pháp lý.

5. Được kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật phát sinh trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý.

6. Giải quyết tranh chấp trong trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và quy định khác của pháp luật có liên quan.

7. Được biểu dương, khen thưởng khi có thành tích trong hoạt động trợ giúp pháp lý hoặc có đóng góp, hỗ trợ tích cực cho việc mở rộng và phát triển công tác trợ giúp pháp lý ở địa phương.

8. Bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý và các quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý khi người của tổ chức mình tham gia trợ giúp pháp lý.

9. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện trợ giúp pháp lý của Luật sư, Tư vấn viên pháp luật thuộc quyền quản lý của mình và chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý.

10. Chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý cho Sở Tư pháp nơi đăng ký.

4.2.5. Chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý của Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật.

1. Theo Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý, Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật chấm dứt tham gia TGPL trong các trường hợp sau đây:

a) Tự chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý;

b) Không được tiếp tục tham gia TGPL trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Luật Trợ giúp pháp lý;

c) Chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật.

2. Khi chấm dứt tham gia TGPL, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật phải thông báo cho Sở Tư pháp nơi đăng ký tham gia TGPL; chuyển hồ sơ vụ việc TGPL đang trợ giúp đến Trung tâm TGPL nhà nước ở địa phương nơi đăng ký tham gia TGPL để tiếp tục thực hiện.

5. Phạm vi, vụ việc, lĩnh vực, hình thức và hoạt động TGPL.
5.1. Phạm vi thực hiện trợ giúp pháp lý (Điều 26 Luật TGPL).

1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi sau đây:

a) Người được trợ giúp pháp lý đang cư trú tại địa phương;

b) Vụ việc trợ giúp pháp lý xảy ra tại địa phương;

c) Vụ việc trợ giúp pháp lý do tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác chuyển đến.

2. Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý trong phạm vi đăng ký.

5.2. Vụ việc trợ giúp pháp lý 

Vụ việc trợ giúp pháp lý phải liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL và không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại (Điều 5).

5.3. Các lĩnh vực trợ giúp pháp lý (Điều 34 Nghị định số 07/NĐ-CP).

Các lĩnh vực trợ giúp pháp lý bao gồm:

1. Pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự.

2. Pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và thi hành án dân sự.

3. Pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật về trẻ em.

4. Pháp luật hành chính, khiếu nại, tố cáo và tố tụng hành chính.

5. Pháp luật đất đai, nhà ở, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng.

6. Pháp luật lao động, việc làm, bảo hiểm.

7. Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng và pháp luật về chính sách ưu đãi xã hội khác.

8. Các lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo hoặc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

5.4. Các hình thức trợ giúp pháp lý (Điều 27 Luật TGPL).

Hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện bằng các hình thức sau đây:

5.4.1 Tư vấn pháp luật: Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư, Cộng tác viên, Tư vấn viên pháp luật hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc TGPL (Điều 28);

5.4.2. Tham gia tố tụng: Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được TGPL là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự; tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính (Điều 29).

5.4.3. Đại diện ngoài tố tụng:  Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư thực hiện đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý khi họ không thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc đại diện ngoài tố tụng được thực hiện trong phạm vi yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý (Điều 30).

5.4.4. Các hình thức trợ giúp pháp lý khác: Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư thực hiện việc giúp đỡ cho người được trợ giúp pháp lý hoà giải, thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật (Điều 31).

5.5. Hoạt động trợ giúp pháp lý.

5.5.1. Yêu cầu trợ giúp pháp lý (Điều 33 Luật TGPL).  

Người được TGPL phải có đơn yêu cầu hoặc gặp người thực hiện TGPL  trình bày và có giấy tờ chứng minh là người được TGPL. Trong trường hợp người được TGPL không thể tự mình viết đơn yêu cầu thì người thực hiện TGPL có trách nhiệm ghi các nội dung vào mẫu đơn, để họ tự đọc hoặc đọc lại cho họ nghe và yêu cầu họ ký tên hoặc điểm chỉ.

5.5.2. Thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý (Điều 34 Luật TGPL).

– Người tiếp nhận đơn yêu cầu TGPL phải kiểm tra các nội dung có liên quan đến yêu cầu TGPL; nếu yêu cầu TGPL thuộc vụ việc, đối tượng, phạm vi TGPL quy định tại các điều 5, 10 và  26 của Luật TGPL thì phải thụ lý.

– Trong trường hợp người được trợ giúp pháp lý còn thiếu những giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý hoặc giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý thì người tiếp nhận yêu cầu phải hướng dẫn họ cung cấp các giấy tờ, tài liệu đó.

5.5.3. Phối hợp xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý (Điều 36 Luật TGPL). 

– Trong trường hợp cần xác minh các tình tiết, sự kiện có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý ở địa phương khác thì Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước đã thụ lý vụ việc được yêu cầu Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước nơi cần xác minh phối hợp thực hiện. Yêu cầu xác minh phải bằng văn bản, nêu rõ nội dung cần xác minh và thời hạn trả lời.

– Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được yêu cầu xác minh có trách nhiệm thực hiện và thông báo kết quả bằng văn bản kèm theo các giấy tờ, tài liệu có liên quan cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước yêu cầu.

Văn bản yêu cầu xác minh, văn bản thông báo kết quả thực hiện và các giấy tờ, tài liệu có liên quan phải được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý.

5.5.4. Chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý (Điều 37 Luật TGPL).

– Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý bằng văn bản kèm theo hồ sơ cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ở địa phương khác để thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật TGPL và thông báo cho người được trợ giúp pháp lý biết.

– Kể từ ngày nhận được văn bản chuyển vụ việc kèm theo hồ sơ, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có trách nhiệm thụ lý vụ việc và thông báo cho người được trợ giúp pháp lý biết.

5.5.5. Hoạt động tư vấn pháp luật (Điều 38 Luật TGPL).

Tư vấn pháp luật được thực hiện bằng miệng hoặc bằng văn bản; tư vấn trực tiếp, bằng thư tín, điện tín hoặc thông qua phương tiện thông tin khác; thông qua TGPL lưu động, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, Câu lạc bộ TGPL và các phương thức khác.

 – Đối với vụ việc đơn giản, người thực hiện TGPL phải tư vấn ngay và ghi chép những nội dung chính trong phiếu thực hiện TGPL. Phiếu thực hiện TGPL được lập thành hai bản, một bản giao cho người được TGPL, một bản được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc.

– Đối với vụ việc phức tạp, cần có thời gian nghiên cứu, xác minh hoặc vụ việc thiếu những giấy tờ, tài liệu có liên quan thì người thực hiện TGPL phải viết phiếu hẹn hoặc yêu cầu bổ sung các giấy tờ, tài liệu còn thiếu. Trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày thụ lý vụ việc hoặc nhận đủ các giấy tờ, tài liệu cần bổ sung, người thực hiện TGPL có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho người được TGPL; trong trường hợp vụ việc cần có thời gian để xác minh thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày.

– Đối với vụ việc yêu cầu tư vấn được chuyển đến bằng thư tín, người thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu TGPL.

5.5.6. Hoạt động tham gia tố tụng (Điều 39 Luật TGPL).

– Trong thời hạn không quá ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu cử người tham gia tố tụng, Trung tâm TGPL nhà nước hoặc tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm cử người tham gia tố tụng. Việc cử người tham gia tố tụng phải được lập thành văn bản và gửi cho người được TGPL, cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan.

– Cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận người bào chữa, giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự hoặc giấy chứng nhận người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính cho Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư là cộng tác viên của Trung tâm TGPL trong thời hạn không quá ba ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của Trung tâm TGPL nhà nước cử người tham gia tố tụng, trừ trường hợp pháp luật tố tụng có quy định khác.

Việc cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng cho Luật sư tham gia TGPL do tổ chức hành nghề luật sư cử hoặc Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân tham gia TGPL theo quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật về luật sư.

– Giấy chứng nhận tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi hoặc Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư bị thay đổi, không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

– Khi tham gia tố tụng, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư xuất trình giấy chứng nhận tham gia tố tụng, thẻ Trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ Luật sư; có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng; được sử dụng các biện pháp mà pháp luật tố tụng quy định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL.

5.5.7. Hoạt động đại diện ngoài tố tụng (Điều 40 và Điều 39 Nghị định số 07/NĐ-CP).

1. Trong thời hạn không quá ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Giám đốc Trung tâm, Trưởng Chi nhánh ra quyết định cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư là cộng tác viên thực hiện đại diện ngoài tố tụng theo quy định tại Điều 30 và Điều 40 Luật Trợ giúp pháp lý.

2. Trong thời hạn không quá ba ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định cử người thực hiện đại diện ngoài tố tụng, Giám đốc Trung tâm, Trưởng Chi nhánh phải gửi quyết định cho người được trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ việc yêu cầu đại diện.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ việc đại diện có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện và cộng tác với người được cử đại diện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

3. Giám đốc Trung tâm, Trưởng Chi nhánh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cử người thực hiện đại diện ngoài tố tụng, bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.

4. Trung tâm, Chi nhánh có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ việc đại diện để theo dõi, quản lý quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư là cộng tác viên do mình cử, bảo đảm hoạt động của họ có chất lượng, hiệu quả, tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

5. Trong trường hợp phải thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý, Trung tâm hoặc Chi nhánh có trách nhiệm cử người đủ tiêu chuẩn để tiếp tục thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý.

Khi thực hiện đại diện ngoài tố tụng, người đại diện có trách nhiệm sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL.

5.5.8. Kiến nghị thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý (Điều 42).  

Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện TGPL có quyền kiến nghị bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật.

Theo Điều 41 Nghị định số 07/NĐ-CP thì kiến nghị những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật được thực hiện như sau:

1. Khi có đủ căn cứ cho rằng kết quả giải quyết vụ việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa phù hợp với quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho người được trợ giúp pháp lý thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý kiến nghị với cơ quan nhà nước đó xem xét giải quyết lại vụ việc để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý. Khi kiến nghị, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải nêu rõ nội dung vụ việc, căn cứ pháp luật được áp dụng và hướng giải quyết vụ việc và chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của kiến nghị.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc khi nhận được văn bản kiến nghị của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá bốn mươi lăm ngày, trừ trường hợp pháp luật có quy định về thời hạn trả lời. Trong trường hợp quá thời hạn nói trên mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc không trả lời thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được kiến nghị với lãnh đạo cấp trên trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó để có biện pháp chỉ đạo, xử lý.

2. Khi giải quyết vụ việc, nếu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phát hiện cán bộ, công chức nhà nước cố tình làm sai, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người được trợ giúp pháp lý thì kiến nghị cơ quan quản lý trực tiếp xem xét, giải quyết về việc thi hành pháp luật của cán bộ, công chức đó. Kiến nghị phải nêu rõ các căn cứ, các tình tiết, nội dung sự việc và phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của kiến nghị đó.

3. Khi giải quyết vụ việc, tổ chức thức hiện trợ giúp pháp lý phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tiễn thì kiến nghị với các cơ quan nhà nứơc có thẩm quyền về việc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật đó. Trong kiến nghị cần nêu rõ quy định cần sửa đổi, bổ sung, được đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung và các giải pháp để bảo đảm thực hiện pháp luật có hiệu quả.

5.5.9. Hoạt động hoà giải trong trợ giúp pháp lý (Điều 40 Nghị định số 07/NĐ-CP).

1. Khi có yêu cầu hoặc được sự đồng ý của một hoặc các bên, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cử người thực hiện trợ giúp pháp lý làm trung gian để phân tích các tình tiết của vụ việc, giải thích quy định của pháp luật, hướng dẫn để các bên tự thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc mà không phải đưa vụ việc ra Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền, tự nguyện rút đơn kiện, tự giải quyết các tranh chấp và tự nguyện chấp hành kết quả giải quyết vụ việc.

2. Việc hoà giải cũng được tiến hành trong trường hợp cần thiết để giữ gìn đoàn kết cộng đồng, duy trì trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, trừ trường hợp pháp luật quy định không được hoà giải.

3. Việc hoà giải phải được lập thành biên bản. Biên bản hoà giải phải thể hiện đầy đủ kết quả của quá trình hoà giải, ý kiến của người thực hiện trợ giúp pháp lý và của các bên về nội dung vụ việc, có chữ ký của các bên tham gia để họ tự nguyện thi hành kết quả hoà giải. Biên bản hoà giải phải được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý.

5.5.10. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý (Điều 43 Luật TGPL).

– Khi thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL phải lập hồ sơ vụ việc TGPL. Hồ sơ vụ việc TGPL gồm có:

1. Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý;

2. Giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý;

3. Các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc TGPL (nếu có).

– Đối với từng loại vụ việc TGPL, ngoài các giấy tờ, tài liệu trên đây, Hồ sơ vụ việc TGPL cần phải có thêm các loại giấy tờ sau đây:

+ Đối với vụ việc tư vấn pháp luật phải có phiếu thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc văn bản tư vấn pháp luật.

+ Đối với vụ việc tham gia tố tụng phải có: Văn bản cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư tham gia tố tụng; Bản bào chữa, bản bảo vệ quyền lợi cho người được trợ giúp pháp lý.

+ Đối với vụ việc đại diện ngoài tố tụng phải có bản báo cáo về những công việc đã thực hiện trong phạm vi đại diện ngoài tố tụng của người thực hiện trợ giúp pháp lý.

+ Đối với vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện bằng các hình thức trợ giúp pháp lý khác phải có biên bản về việc thực hiện trợ giúp pháp lý.

5.5.11. Từ chối hoặc không được tiếp tục thực hiện TGPL (Điều 45).  

1. Vụ việc trợ giúp pháp lý bị từ chối hoặc không được tiếp tục thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người có yêu cầu TGPL không thuộc diện người được TGPLquy định tại Điều 10 của Luật TGPL;

b) Người được TGPL cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về vụ việc;

c) Người được TGPL vi phạm nghiêm trọng nội quy hoặc có hành vi làm mất trật tự nơi thực hiện TGPL; xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người thực hiện TGPL;

d) Người được trợ giúp pháp lý rút yêu cầu trợ giúp pháp lý;

đ) Vụ việc đang được một tổ chức thực hiện TGPL khác trợ giúp;

e) Vụ việc không thuộc loại vụ việc được TGPL và không thuộc phạm vị thực hiện TGPL quy định tại Điều 5 và Điều 26 của Luật TGPL;

g) Vụ việc TGPL thuộc trường hợp chuyển vụ việc TGPL quy định tại Điều 37 của Luật TGPL.

2. Người thực hiện TGPL phải từ chối hoặc không được tiếp tục thực hiện TGPL khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã hoặc đang thực hiện TGPL cho người được TGPL là một bên có quyền lợi đối lập nhau trong cùng một vụ việc, trừ trường hợp hoà giải, giải đáp pháp luật;

b) Có quyền, lợi ích hợp pháp hoặc có người thân thích liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý;

c) Người thực hiện TGPL đã từng là người giải quyết vụ việc đó;

d) Có căn cứ khác cho rằng người thực hiện TGPL có thể không khách quan trong thực hiện TGPL.

3. Trong trường hợp người thực hiện TGPL phải từ chối hoặc không được tiếp tục thực hiện TGPL thì tổ chức thực hiện TGPL cử người khác thực hiện TGPL hoặc người thực hiện TGPL hướng dẫn, giới thiệu người được TGPL đến người thực hiện TGPL khác để được TGPL.

4. Trường hợp từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL phải thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người được TGPL.

6. Quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý 

6.1. Nội dung quản lý nhà nước về TGPL (Điều 46 Luật TGPL).

1. Xây dựng, ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về TGPL; xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển TGPL.

2. Ban hành và tổ chức thực hiện các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ, tiêu chuẩn, chế độ, chính sách, quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.

3. Quản lý, hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm TGPL nhà nước; cấp, thu hồi, thay đổi Giấy đăng ký tham gia TGPL của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật; xây dựng các biện pháp hỗ trợ phát triển hoạt động TGPL.

4. Quản lý, bồi dưỡng đội ngũ người thực hiện TGPL; cấp, thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý; công nhận, cấp, thu hồi thẻ cộng tác viên; quy định mẫu đăng ký tham gia TGPL, mẫu thẻ Trợ giúp viên pháp lý, mẫu thẻ cộng tác viên; ấn hành các tài liệu về TGPL.

5. Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý.

6. Bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động và điều kiện vật chất khác cho hoạt động TGPL của Nhà nước; xây dựng, quản lý Quỹ trợ giúp pháp lý.

7. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm trong hoạt động trợ giúp pháp lý.

8. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý.

6.2. Cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý (Điều 47).  

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý và được phân cấp cho các bộ, ngành và các cấp như sau:

6.2.1. Theo Điều 44 Nghị định số 07/NĐ-CP thì Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, hướng dẫn, tổ chức và theo dõi việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý; nghiên cứu, xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển trợ giúp pháp lý và tổ chức triển khai thực hiện;

b) Ban hành các quy định hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý, quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, quy chế cộng tác viên, nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý;

c) Quản lý, hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm, của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước; xây dựng các biện pháp hỗ trợ phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý;

d) Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện trợ giúp pháp lý và cấp Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; quy định mẫu Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, mẫu thẻ Trợ giúp viên pháp lý, mẫu thẻ cộng tác viên, mẫu đơn đề nghị làm cộng tác viên, mẫu hợp đồng cộng tác; mẫu đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý, mẫu phiếu thực hiện trợ giúp pháp lý và các biểu mẫu, giấy tờ khác; ấn hành các tài liệu về trợ giúp pháp lý;

đ) Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý;

e) Chỉ đạo, hướng dẫn, xây dựng và thực hiện quản lý Quỹ trợ giúp pháp lý;

g) Thanh tra, kiểm tra tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và hoạt động trợ giúp pháp lý; trong các trường hợp cần thiết tổ chức kiểm tra, đánh giá lại chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm trong hoạt động trợ giúp pháp lý;

h) Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý;

i) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành về trợ giúp pháp lý, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên.

6.2.2. Theo Điều 45 Nghị định số 07/NĐ-CP, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý trong phạm vi lĩnh vực được phân công phụ trách.

b) Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, đơn vị trực thuộc trong việc thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý.

c) Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện việc phối hợp giải quyết dứt điểm các kiến nghị về việc thi hành pháp luật.

6.2.3. Theo Điều 46 Nghị định số 07/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý tại địa phương, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý; hướng dẫn, tổ chức và theo dõi việc thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý ở địa phương;

b) Quyết định thành lập Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động của Trung tâm trên cơ sở quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành;

c) Quản lý về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý của Trung tâm và Chi nhánh, hoạt động tham gia trợ giúp pháp lý của các Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật ở địa phương;

d) Quản lý người thực hiện trợ giúp pháp lý ở địa phương; trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt biên chế của Trung tâm và Chi nhánh; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi địa phương;

đ) Chỉ đạo Sở Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và Nghị định hướng dẫn thi hành; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân, cơ quan tư pháp cấp dưới phối hợp với Trung tâm và Chi nhánh trong công tác trợ giúp pháp lý ở địa phương;

e) Lập kế hoạch xây dựng nguồn cán bộ, bảo đảm biên chế, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động, trang thiết bị, phương tiện làm việc của Trung tâm và Chi nhánh ở địa phương;

g) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật;

h) Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, chế độ sơ kết, tổng kết về tổ chức, hoạt động trợ giúp pháp lý ở địa phương.

Sở Tư pháp là cơ quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trên đây và phối hợp với các Sở, ban ngành thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý ở địa phương.

7. Xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp.

7. 1. Xử lý vi phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý (Điều 48).

1. Người thực hiện TGPL, người được TGPL hoặc người khác có hành vi vi phạm pháp luật về TGPL thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức tham gia TGPL có hành vi vi phạm pháp luật về TGPL thì bị xử phạt hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì không được tiếp tục tham gia TGPL.

3. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở, gây khó khăn cho hoạt động TGPL hoặc vi phạm pháp luật về TGPL thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

7.2. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý (Điều 49).

1. Người được TGPL có quyền khiếu nại đối với các hành vi: Từ chối thụ lý vụ việc TGPL; không thực hiện TGPL; thay đổi người thực hiện TGPL của Trung tâm TGPL nhà nước, Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình:

Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước có trách nhiệm giải quyết khiếu nại trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại; trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước, người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Giám đốc Sở Tư pháp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm giải quyết khiếu nại.

2. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại về việc cấp, thay đổi, thu hồi Giấy đăng ký thực hiện TGPL; cấp, thu hồi thẻ cộng tác viên; quyết định xử lý kỷ luật, quyết định xử phạt hành chính và các quyết định hành chính, hành vi hành chính khác trong lĩnh vực TGPL. Việc giải quyết khiếu nại về TGPL  đối với các hành vi trên đây được thực hiện theo pháp luật về khiếu nại.

3. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm các quy định của Luật này. Việc tố cáo và giải quyết tố cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

7.3. Giải quyết tranh chấp trong hoạt động TGPL (Điều 50 ).

1. Trong trường hợp có tranh chấp giữa người được TGPL với Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên, Trung tâm TGPL nhà nước, Tư vấn viên pháp luật, tổ chức tư vấn pháp luật liên quan đến việc thực hiện TGPL thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

2. Trong trường hợp có tranh chấp giữa người được TGPL và Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư liên quan đến việc thực hiện TGPL thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về luật sư và các quy định khác của pháp luật có liên quan./.

Advertisements
 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: