RSS

Những điểm mới của Bộ luật tố tụng Dân sự về thẩm quyền giải quyết Dân sự của Tòa án nhân dân

27 Feb

TS.Bùi Thị Huyền

Giảng viên Khoa Pháp luật Dân sự- Đại học Luật Hà Nội

Thẩm quyền giải quyết các vụ việc của Tòa án là quyền xem xét, giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự của Tòa án. Việc xác  định một cách khoa học và hợp lý thẩm quyền dân sự của Tòa án tránh  được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ giữa Tòa án với các cơ quan nhà nước, giữa các Tòa án với nhau và xác định các điều kiện cần thiết bảo đảm cho Tòa án thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, từ đó bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Bộ luật TTDS năm 2004 (gọi tắt là BLTTDS) và thực hiện Nghị quyết Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhằm: “ Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự…tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý”, ngày 29/3/2011, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS (gọi tắt là BLTTDS sửa đổi, bổ sung), trong đó có những quy định về thẩm quyền dân sự của Tòa án. BLTTDS sửa đổi bổ sung có những sửa đổi quan trọng về thẩm quyền theo loại việc; thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu.

Về cơ bản, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp, yêu cầu dân sự quy định từ Điều 25 đến Điều 36 BLTTDS năm 2004 được giữ nguyên. BLTTDS sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi , bổ sung 4 điều luật liên quan đến thẩm quyền theo loại việc, gồm: sửa đổi, bổ sung Điều 25 về những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án; sửa đổi, bổ sung Điều 26 về những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án; sửa đổi, bổ sung Điều 31 về  những tranh chấp về lao  động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án; bổ sung  Điều 32a về thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, sửa đổi, bổ sung Điều 33 về thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; bổ sung Điều 35 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ; bổ sung Điều 36 về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu. Dưới đây, tác giae trình bày cụ thể các nội dung đươc sửa đổi bổ sung như sau:

Thứ nhất, BLTTDS sửa  đổi, bổ sung sửa khoản 7  Điều 25  “Tranh chấp về quyền sử

dụng  đất và tài sản gắn liền với  đất theo quy  định của pháp luật về  đất  đai” thành  “Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai”.

Sửa đổi này là cần thiết, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử, tránh cách hiểu và áp dụng máy móc điều luật, bởi có những trường hợp đương sự chỉ tranh chấp về quyền sử dụng đất, nhưng có trường hợp đương sự lại chỉ tranh chấp về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Thứ hai, BLTTDS sửa  đổi, bổ sung  đã bổ sung các quy  định về thẩm quyền  đối với

“Tranh chấp  liên quan  đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” (khoản 9  Điều 25 BLTTDS sửa đổi, bổ sung) và  “Yêu cầu  tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”(khoản 6 Điều 26 Điều 25 BLTTDS sửa đổi, bổ sung ).

Có thể thấy, việc bổ sung này là cần thiết nhằm khắc phục những quy  định mâu thuẫn

của BLTTDS so với các văn bản pháp luật khác. Theo Điều 45 của Luật Công chứng, “Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Toà án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật”. Việc công chứng bị coi là có vi phạm pháp luật khi có vi phạm về thẩm quyền, thủ tục công chứng. Đối với trường hợp công chứng không vi phạm pháp luật nhưng người yêu cầu công chứng có hành vi giả mạo giấy tờ, hợp đồng giả mạo mà Công chứng viên không biết được thì theo quy định của Bộ luật Dân sự, văn bản công chứng này vẫn bị coi là vô hiệu. Như vậy, có thể thấy BLTTDS sửa đổi, bổ sung đã quy định mở rộng cả đối với việc xem xét trường hợp công chứng không vi phạm pháp luật nhưng người yêu cầu công chứng làm giấy tờ giả, hợp đồng giả mạo (văn bản công chứng vô hiệu) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thực tế hiện nay, có rất nhiều trường hợp các bên yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền để che giấu giao dịch bất động sản với nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, quy định này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Theo khoản 1  Điều 33 BLTTDS sửa  đổi, bổ sung thì tranh chấp  liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và yêu cầu  tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu đều thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện. Đối với tranh chấp  liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ được thực hiện theo Điều 35 BLTTDS. Đối với yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì Toà án nơi Phòng công chứng, Văn phòng công chứng  đã thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết (điểm m khoản 2 Điều 35 BLTTDS sửa đổi, bổ sung). Bên cạnh đó, người yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết (điểm b khoản 2  Điều 36 BLTTDS sửa đổi, bổ sung).

3 Thứ ba, BLTTDS sửa  đổi, bổ sung  đã bổ sung các quy  định về thẩm quyền  đối với “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” (khoản 10 Điều 25) và“Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” (khoản 7 Điều 26) thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Thực chất, đây là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. Song đây là trường hợp đặc thù, phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự. Theo đó, chủ thể khởi kiện và thời hạn khởi kiện có những  đặc thù khác so với các trường hợp tranh chấp quyền sở hữu thông thường. Theo Điều 74 Luật Thi hành án dân sự: “Trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng  đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế. Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án.

Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác  định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

Điều 75 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền.”

Như vậy, theo Luật Thi hành án dân sự, chủ sở hữu chung, các bên tranh chấp, Chấp hành viên có quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án xác  định phần sở hữu của người phải THA

trong khối tài sản chung để bảo đảm đảm thi hành án. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho Chấp hành viên xác định được tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác hoặc tổ chức thi hành án trong trường hợp tài sản của người phải thi hành án là tài

sản thuộc sở hữu chung với người khác nhưng các chủ sở hữu chung không khởi kiện.Tuy nhiên, Bộ luật TTDS năm 2004 lại không quy định cho Chấp hành viên có quyền khởi kiện vụ án dân sự. Do đó, trên thực tế quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án xác định phần tài sản trong các

trường hợp trên của Chấp hành viên không  được các Tòa án chấp nhận.  Đây là  điểm mâu thuẫn giữa Luật Thi hành án dân sự  và Bộ luật TTDS về chủ thể có quyền khởi kiện, yêu cầu

xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án vụ án dân sự. Do  đó,  để  đảm bảo tính thống nhất giữa Bộ luật TTDS và Luật Thi hành án dân sự, góp phần giải quyết tình trạng đương sự cố tình gây khó khăn, kéo dài việc thi hành án, giảm hiểu án tồn  đọng, Bộ luật TTDS sửa  đổi, bổ sung  đã bổ sung thêm hai loại việc này thuộc thẩm quyền  của Tòa án.

Theo khoản 1 Điều 33 BLTTDS sửa đổi, bổ sung thì “tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện và việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ được thực hiện theo Điều 35 BLTTDS. Song, “yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” lại thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh vì theo Điều 33 BLTTDS sửa đổi, bổ sung loại việc này không thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện. Toà án nơi Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung  để thi hành án theo quy  định của pháp luật (điểm n khoản 2  Điều 35 BLTTDS sửa  đổi, bổ sung). Bên cạnh  đó, người yêu cầu xác  định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết (điểm b khoản 2 Điều 36 BLTTDS sửa đổi, bổ sung).

Thứ tư, BLTTDS sửa đổi, bổ sung bổ sung các quy định về thẩm quyền đối với “Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, tài sản kê biên sẽ được xử lý bằng một trong ba phương thức: Giao tài sản kê biên cho người được thi hành án; bán đấu giá và bán khôngqua thủ tục đấu giá. Trong trường hợp, tài sản kê biên được xử lý bằng phương thức bán đấu giá thì trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá. Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết (khoản 5 Điều 105 Luật Thi hành án dân sự). Trong trường hợp không đồng ý với kết quả bán đấu giá, đương sự, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản (Điều 102 Luật Thi hành án dân sự). Do đó, để đảm bảo tính thống nhất giữa Bộ luật TTDS và Luật Thi hành án dân sự, Bộ luật TTDS sửa đổi, bổ sung đã bổ sung thêm hai loại việc này thuộc thẩm quyền của Tòa án.  Theo khoản 1  Điều 33 BLTTDS sửa  đổi, bổ sung thì hai loại tranh chấp này đều thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện và việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ được thực hiện theo Điều 35 BLTTDS.

Thứ tư, BLTTDS sửa đổi, bổ sung bổ sung các quy định về thẩm quyền đối với tranh chấp lao động. Đối với tranh chấp lao động cá nhân, theo điểm đ khoản 1 Điều 31 BLTTDS năm 2004 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Tuy nhiên, để phù hợp với điểm đ khoản 2 Điều 166 Luật sửa  đổi, bổ sung một số  điều của Bộ luật Lao  động của Quốc hội ngày 29/11/2006,  điểm  đ khoản 1  Điều 31 BLTTDS sửa  đổi, bổ sung  đã quy  định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Đối với tranh chấp lao động tập thể, khoản 2 điều 31 BLTTDS năm 2004 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết: “Tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động đã được Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, bao gồm:a) Về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; b) Về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể; c) Về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn”.  Tuy nhiên, theo Điều 157  Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2006 thì tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Trong đó, tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp về việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được  đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác  ở doanh nghiệp mà tập thể lao  động cho rằng người sử dụng lao  động vi phạm. Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp về việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động.

Mặt khác, theo các Điều từ 168 đến 170b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2006 quy định đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền, sau khi Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động hoà giải không thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 165a của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao  động năm 2006 mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết. Sau khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện  đã giải quyết mà hai bên vẫn còn tranh chấp hoặc hết thời hạn giải quyết quy  định mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì mỗi bên có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết. Đối với tranh chấp lao động về lợi ích thì trong trường hợp hoà giải không thành hoặc hết thời hạn giải quyết mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết. Trường hợp Hội đồng

trọng tài lao  động hoà giải không thành hoặc hết thời hạn giải quyết quy  định mà Hội  đồng trọng tài lao động không tiến hành hoà giải thì tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công.

Do đó, để phù hợp với các quy định của Bộ luật Lao động, khoản 2 Điều 31 BLTTDS sửa đổi, bổ sung đã không liệt kê cụ thể các tranh chấp lao động tập thể thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết: “Tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không giải quyết”.

Thứ năm, Bộ luật TTDS sửa  đổi bổ sung  đã bổ sung thẩm quyền của Toà án  đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức. Có thể thấy,  Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 có quy định này, tuy nhiên suốt 15 năm từ khi ban hành, từ năm 1989 cho đến khi ban hành BLTTDS hoàn toàn không có một trường hợp nào Tòa án trong khi xét xử các vụ án dân sự đã ra những bản án hủy những quyết định sai trái.

Trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLTTDS, đây là vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau1

. Có ý kiến  đề nghị giữ nguyên quy  định của BLTTDS hiện hành, không quy  định Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định trái pháp luật của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, Ủy ban thường vụ

Xem B­n t­ng h­p th­o lu­n t­i h­i tr­­ng Qu­c h­i ngày 22/3/2011.

Quốc hội cho rằng: Thực tiễn thi hành BLTTDS cho thấy trong quá trình xét xử vụ án dân sự, có những quyết định trái pháp luật của cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ án, nếu quy định Tòa án chỉ có quyền kiến nghị hủy bỏ như BLTTDS hiện hành thì Toà án gặp rất nhiều vướng mắc khi giải quyết các vụ án dân sự. Vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng cần thiết phải sửa đổi quy định trên nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động xét xử của Tòa án thời gian qua. Bên cạnh đó, đa số các ý kiến cho rằng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự có những vụ án Tòa án phải xem xét quyết định trái pháp luật của cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc mà Tòa án đang giải quyết. Những quyết định này do các cơ quan, tổ chức ở các cấp khác nhau ban hành. Để bảo đảm sự thống nhất với quy định của Luật Tố tụng hành chính về thẩm quyền của mỗi cấp Tòa án trong việc hủy quyết  định hành chính trái pháp luật của các cơ quan hành chính, thì BLTTDS cũng cần phải quy định thẩm quyền riêng của Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh đối với quyết định trái pháp luật của cơ quan, tổ chức các cấp. Do vậy, trường hợp vụ việc dân sự do Tòa án cấp huyện thụ lý giải quyết có quyết định trái pháp luật cần phải hủy mà quyết định  đó theo quy  định tại  Điều 30 của Luật tố tụng hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh thì Tòa án cấp huyện chuyển hồ sơ vụ việc dân sự  đó cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết2

Do đó, Điều 32a BLTTDS sửa đổi, bổ sung đã bổ sung quy định: “1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Toà án có quyền hủy quyết  định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức,người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết. Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.

2. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt bị yêu cầu hủy quy định tại

khoản 1 Điều này, thì quyết định cá biệt đó được Toà án xem xét trong cùng vụ việc dân sự. Thẩm quyền của cấp Toà án giải quyết vụ việc dân sự đó được xác định theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật Tố tụng hành chính.”

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: